Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Vì sao nông sản Việt vẫn chưa được gọi tên trên thị trường thế giới?

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng xuất khẩu nông sản và được nhiều thị trường nước ngoài đánh giá cao. Tuy nhiên, 90% nông sản xuất khẩu vẫn ở dưới dạng thô nên giá trị xuất khẩu chưa cao.

Ngoài nguyên nhân đa số sản phẩm nông sản ở dạng thô thì theo các chuyên gia đầu ngành lĩnh vực nông nghiệp, các nguyên nhân khác khiến thương hiệu nông sản Việt chưa đạt giá trị cao trên thị trường thế giới là nhiều địa phương và doanh nghiệp chưa thấy rõ được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu sản phẩm. Các doanh nghiệp cũng không chú trọng đầu tư vào nông nghiệp, do phải đối mặt với nhiều rủi ro như thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường, vốn...

Hàng nông sản của Việt Nam còn chịu nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh khó kiểm soát. Khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, thiếu sự đầu tư cho công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường… cũng là những yếu tố cản trở chiến lược xây dựng thương hiệu nông sản Việt.

Bên cạnh đó, các chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam tuy có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng việc đăng ký và bảo hộ ở nước ngoài còn nhiều hạn chế, vướng mắc do thiếu đầu tư kinh phí. Ngoài ra, chiến lược xây dựng phát triển bền vững ở thị trường nước ngoài cũng gần như bị bỏ ngỏ. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được khai thác và giám sát lỏng lẻo khiến cho nạn nhái các chỉ dẫn địa lý diễn ra ở nhiều nơi.

Nhu cầu sử dụng dấu hiệu chỉ dẫn địa lý của người dân, doanh nghiệp trong nước còn hạn chế do quy mô sản xuất nhỏ và hoạt động thương mại theo phương thức truyền thống nên chưa hình thành các chuỗi cung ứng khép kín và đảm bảo tiêu chuẩn đặt hàng của đối tác. Do đó, chỉ dẫn địa lý hiện chưa trở thành dấu hiệu thương mại phổ biến trên thị trường kể cả trong và ngoài nước.

Chính vì những yếu tố trên mà hiện tại, việc xây dựng thương hiệu nông sản của Việt Nam mới dừng ở mức khuyến khích.

Theo đánh giá của Công ty tư vấn chiến lược và đánh giá thương hiệu Brand Finance của Anh, trong 2 năm qua, giá trị thương hiệu của Việt Nam đã giảm tới 19%, so với năm 2014 được định giá là 172 tỉ USD thì năm 2015 chỉ còn 140 tỉ USD. Việt Nam chỉ xếp hạng trên Campuchia về giá trị thương hiệu. Sản phẩm nông sản Việt Nam chưa có nhiều thương hiệu trên thị trường thế giới, việc liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, khả năng cạnh tranh thấp. Đây vừa là những hạn chế, vừa là thách thức đối với nền nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng.

Theo đó, để nâng cao giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam trong xu thế hội nhập và ký kết nhiều Hiệp định tự do thương mại như hiện nay, các chuyên gia đề xuất cần lựa chọn một số mặt hàng có thế mạnh để xây dựng thương hiệu, trong đó các mặt hàng này phải đảm bảo đáp ứng được các yếu tố chính như: khối lượng đủ lớn và ổn định, chất lượng đồng đều, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giá bán cạnh tranh.

Để nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản mang thương hiệu Việt tại thị trường trong nước và xuất khẩu, các doanh nghiệp phải thực hiện đồng bộ các khâu từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, đặc biệt là kiểm soát nguồn gốc xuất xứ. Đồng thời, xây dựng được hình ảnh thương hiệu thông qua việc quảng bá nông sản, phát triển hệ thống phân phối ở các cửa hàng để giới thiệu sản phẩm tới tay người tiêu dùng.

Các doanh nghiệp cần liên kết lại với nhau để đầu tư khoa học - công nghệ từng bước hạn chế xuất khẩu thô, chuyển dần sang chế biến tinh nhằm nâng cao giá trị sản phẩm…

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần hỗ trợ doanh nghiệp trong đăng ký bảo hộ, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm nông sản để nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sức cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để mua sắm máy móc, trang thiết bị đầu tư khoa học nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm…

Thời gian tới, trong khuôn khổ của Chương trình thương hiệu quốc gia, Bộ Công Thương cho biết sẽ phối hợp với các cơ quan nghiên cứu để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông sản, đăng ký bảo hộ, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm nông sản.

"Riêng với nông sản, việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý có giá trị hết sức to lớn. Đây là một đặc thù giúp cho các sản phẩm của Việt Nam khẳng định được thương hiệu của mình tại thị trường trong nước và thế giới", Bộ Công Thương đánh giá.

Theo Tuyết Nhung

Một thế giới
Bài đăng trước: 

Trung Quốc giảm mua, heo mất giá ngay mùa cao điểm

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Trung Quốc giảm mua, heo mất giá ngay mùa cao điểm

Hiện nay là đang vào cao điểm thu mua heo chuẩn bị cho dịp tết cả ở Việt Nam và Trung Quốc, nhưng giá heo vẫn sụt giảm nghiêm trọng.



Heo nuôi ở Việt Nam nhưng giá cả đầu ra lại phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc; giá heo hơi bán nội địa cao hơn giá bán cho thương lái nước láng giềng... nghịch lý người tiêu dùng trong nước phải ăn thịt heo đắt hơn mức giá thật vẫn đang tiếp diễn.

Giá heo hơi trong nước đang giảm sâu làm người chăn nuôi lỗ nặng. Điều bất thường hiện nay là đang vào cao điểm thu mua heo chuẩn bị cho dịp tết cả ở Việt Nam và Trung Quốc, nhưng giá heo vẫn sụt giảm nghiêm trọng. Mức giá hiện nay thấp hơn mức giá đỉnh giữa tháng 5 từ 20.000 - 21.000 đồng/kg.

Giá heo luôn biến động

Chị Nguyễn Thị Liên, chủ trại chăn nuôi heo ở xã Gia Kiệm (Thống Nhất, Đồng Nai), thở dài cho biết: mấy hôm trước chị buộc lòng phải cho xuất chuồng gần 100 con heo thịt, chịu lỗ hơn 40 triệu đồng. Giá heo đang rớt thê thảm nhưng vẫn phải bán vì càng nuôi càng lỗ. Từ đây đến tết còn đến mấy đàn tới lứa cần phải xuất chuồng nhưng giá heo hơi hiện chỉ còn 33.000 đồng/kg. Với giá này, cứ một con heo xuất chuồng người chăn nuôi lỗ ít nhất 400.000 đồng. Đối với các trang trại lớn, tình hình càng khó khăn hơn.

Ông Nguyễn Văn Chiểu, xã Gia Tân 2 (H.Thống Nhất) đang nuôi khoảng 5.000 con heo, mỗi tháng xuất cho thị trường Trung Quốc và TP. HCM từ 400 - 500 con heo thịt nên mức lỗ đang gia tăng theo cấp số nhân. Theo ông Chiểu, giá heo giảm là do cung vượt cầu từ việc tăng đàn ở rất nhiều các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Vào một vài thời điểm trong năm, giá heo hơi tại Đồng Nai tăng rất cao, một số hộ chăn nuôi trúng giá thế là người chăn nuôi nhỏ lẻ tự phát tăng đàn. Một yếu tố quan trọng hơn là do phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. “Hiện nay mình chỉ xuất qua đường tiểu ngạch nên bên đó “nóng lạnh” một cái là ở đây mình đã “hắt hơi sổ mũi” rồi. Thời gian tới, nếu thị trường Trung Quốc không mua nữa thì không biết bán ở đâu cho hết đàn heo”, ông Chiểu lo lắng.

Không chỉ có người chăn nuôi mà ngay cả cánh thương lái địa phương cũng lắc đầu với kiểu làm ăn của thương lái Trung Quốc. Một thương lái xuất hàng đi Trung Quốc chia sẻ: Mấy đợt lấy hàng ở đây xong mang đến cửa khẩu thì heo rớt giá, khách không chịu nhận hàng đành phải bán lỗ. "Nhiều bà con gọi bắt heo mà chúng tôi không dám vì thị trường hiện nay bán rất chậm, chỉ nhỏ giọt. Mấy tuần gần đây phải tắt điện thoại vì bà con gọi nhiều quá" - người này than thở.

Chiều 8.12, ông Nguyễn Kim Đoán, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, cho hay heo hơi chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và Trung Quốc. Thông thường vào thời điểm quý 3 dương lịch các đơn vị phải chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán nên heo hút hàng tăng giá. Nhưng năm nay so với thời điểm này năm ngoái giá đã giảm tới hơn 15.000 đồng/kg. Đây là điểm bất thường. “Có nhiều yếu tố khách quan như tình hình thời tiết bất thường gây nên tình trạng lũ lụt ở miền Trung, ảnh hưởng đến việc vận chuyển. Bây giờ Trung Quốc mua trở lại thì giá heo sẽ tăng lên ngay, còn không có thể giảm nữa. Hy vọng đến trước thời điểm Tết Nguyên đán thì nhu cầu tiêu thụ tăng cao, khả năng giá heo sẽ tăng lên”, ông Đoán nói.

Phân tích báo cáo hằng tháng của Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn (NN-PTNT) có thể thấy, giá heo hơi trong nước luôn biến động theo giá thu mua của thương lái Trung Quốc. Đỉnh điểm của sự tăng giá là vào đầu tháng 5.2016, giá tăng đến 53.000 - 54.000 đồng/kg, mức giá kỷ lục trong suốt 19 tháng trước đó. Mức giá này chỉ cầm cự được ít ngày đã đột ngột rớt khi bước vào nửa cuối tháng 5. Bước sang tháng 6, giá heo giảm đến 7.000 - 8.000 đồng/kg. Từ đây bắt đầu xu hướng giảm giá chung của nửa cuối năm 2016 và đến thời điểm hiện tại mức giá thấp nhất là 33.000 đồng/kg. Dù giá cả biến động ra sao thì nguyên nhân chỉ có một, đó là do thị trường Trung Quốc tăng hoặc giảm nhập.
Người Việt mua thịt giá cao
Nếu như lâu nay chúng ta chỉ biết đến câu chuyện người Việt Nam ăn gạo Việt đắt hơn giá gạo xuất khẩu thì hiện nay người Việt cũng mua thịt heo nuôi ở Việt Nam đắt hơn giá bán cho Trung Quốc.

Theo thống kê của Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Nai, tổng đàn heo của địa phương này khoảng 1,7 triệu con, mỗi ngày xuất bán từ 4.000 - 5.000 con, thị trường Trung Quốc thu khoảng 1.500 - 2.000 con. Theo ông Đoán, giá heo đi Trung Quốc chỉ có 33.000 - 34.000 đồng/kg; heo đi TP. HCM giá 37.000 - 38.000 đồng/kg. Sự chênh lệch 3.000 - 4.000 đồng/kg giữa thị trường trong nước và xuất đi Trung Quốc cho thấy người tiêu dùng Việt Nam đang ăn thịt heo được nuôi ngay chính quê hương mình với giá đắt hơn xuất khẩu. Vào thời điểm tăng giá như hồi tháng 5 thì mức chênh lệch càng cao. Lý do, thương lái và doanh nghiệp trong nước phải chạy theo mức giá “bong bóng” mà thương lái Trung Quốc tranh mua nhằm có sản phẩm phục vụ thị trường.

Giải thích rõ hơn, ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho biết: do thương lái Trung Quốc "thổi" giá, tranh mua, muốn có hàng phục vụ thị trường công ty cũng buộc phải tăng giá thu mua. Chính vì vậy mà giá đến tay người tiêu dùng cũng là mức giá cao bất hợp lý. Thời điểm giá cao, thịt nạc đùi bán trên thị trường Việt Nam khoảng 80.000 đồng/kg, trong khi thịt ngoại cùng loại nhập khẩu từ các nước phát triển (phải chịu thuế 15%) giá tới tay người tiêu dùng cũng chỉ khoảng 60.000 đồng/kg. Vào thời điểm đó, ông Mười đã lên tiếng cảnh báo: “Đó chỉ là sự phồn vinh giả tạo, là bong bóng giá cả do thương lái Trung Quốc bơm thổi và đến một ngày nó sẽ nổ”.

Điều mà ông Mười cảnh báo ai cũng biết nhưng cuối cùng người chăn nuôi vẫn để sập bẫy. Cứ một chiêu mạnh tay gom hàng, tạo cầu ảo kích thích các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tăng đàn; đến ngày xuất chuồng, thương lái Trung Quốc giảm mua, giá giảm. Nếu không xuất chuồng sẽ bị quá lứa, tốn chi phí cho ăn. Càng nuôi càng tăng ký giá bán càng rẻ, lỗ nặng nên giá thấp cũng phải bán.

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, giao thông, việc nhập khẩu lương thực, thực phẩm từ Việt Nam để phục vụ cho dân số đông đúc của Trung Quốc ở những khu vực biên giới sẽ có lợi hơn rất nhiều so với vận chuyển giữa các vùng khác nhau trong nội địa nước này. Vậy nên Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì chính sách biên giới một cách linh hoạt để hưởng lợi từ các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Nếu chúng ta không chủ động thay đổi dần luật chơi thì những bài học kiểu này sẽ còn lặp lại nhiều lần. Ngành nông nghiệp nên hoạch định chiến lược làm ăn bền vững, để người Việt không phải sử dụng sản phẩm mà dân mình làm ra đắt hơn mức giá xuất khẩu.
Chí Nhân - Tiểu Thiên